Giảm nghèo bền vững là gì là câu hỏi được nhiều người quan tâm trong bối cảnh các quốc gia, đặc biệt là Việt Nam, đang nỗ lực xây dựng một xã hội công bằng và phát triển toàn diện. Không còn dừng lại ở việc hỗ trợ tạm thời cho người nghèo, giảm nghèo bền vững đòi hỏi những giải pháp lâu dài, mang tính hệ thống và phù hợp với thực tiễn, nhằm giúp người dân vươn lên thoát nghèo một cách ổn định và không tái nghèo. Trong hơn ba thập kỷ qua, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong công tác xóa đói giảm nghèo, với những bước chuyển rõ rệt từ cách tiếp cận đơn chiều dựa vào thu nhập sang mô hình giảm nghèo đa chiều. Việc nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội thiết yếu như giáo dục, y tế, việc làm, nhà ở… đang trở thành nền tảng quan trọng cho quá trình giảm nghèo bền vững. Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về khái niệm giảm nghèo bền vững, những yếu tố cấu thành cũng như chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam hiện nay.
Khái niệm: Giảm nghèo bền vững là gì?

Khái niệm nghèo và giảm nghèo
Liên Hợp Quốc (UN) định nghĩa nghèo là tình trạng thiếu năng lực cơ bản để tham gia đầy đủ vào đời sống xã hội. Nghèo không chỉ là thiếu ăn, mặc, giáo dục, chăm sóc y tế, đất đai hay việc làm mà còn là thiếu an toàn, thiếu quyền, bị loại trừ xã hội, sống trong điều kiện rủi ro, không có nước sạch hay công trình vệ sinh. Đây là một khái niệm đa chiều, gắn liền với quyền con người và công bằng xã hội.
Tại Việt Nam, nghèo lâu nay được đánh giá chủ yếu dựa trên thu nhập. Chuẩn nghèo xác định dựa vào mức chi tiêu tối thiểu cần thiết, tuy nhiên, mức chuẩn này còn thấp so với quốc tế. Nhiều hộ sau khi thoát nghèo vẫn có mức thu nhập sát ngưỡng nghèo, dễ tái nghèo. Thực tế cho thấy, nhiều người dù không nghèo về thu nhập nhưng lại thiếu hụt nghiêm trọng về các dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục, thông tin… Điều này cho thấy thước đo đơn chiều là chưa đủ để phản ánh toàn diện tình trạng nghèo đói và dễ dẫn đến thiếu công bằng trong chính sách giảm nghèo.
Nhằm khắc phục bất cập này, ngày 15/9/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 1614/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Chuyển đổi phương pháp đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều giai đoạn 2016–2020”. Theo đó, tiếp cận nghèo đa chiều bao gồm hai nhóm chỉ số chính:
1. Các tiêu chí về thu nhập:
- Chuẩn sống tối thiểu: Mức thu nhập đủ đáp ứng nhu cầu sinh tồn cơ bản (lương thực, phi lương thực).
- Chuẩn nghèo thu nhập: Ngưỡng thu nhập dùng để xác định đối tượng thụ hưởng chính sách giảm nghèo.
- Chuẩn sống trung bình: Mức thu nhập phản ánh mức sống phổ biến trong xã hội, có tính đến các yếu tố phát triển bền vững.
2. Mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản: Gồm 5 nhóm dịch vụ: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch & vệ sinh, tiếp cận thông tin; với 10 chỉ số cụ thể như: trình độ học vấn người lớn, tình trạng học tập của trẻ em, chất lượng nhà ở, bảo hiểm y tế, hạ tầng thông tin… Một hộ được coi là nghèo đa chiều khi thiếu hụt từ 1/3 tổng điểm trở lên trong các chỉ số này. Từ đó, chuẩn nghèo giai đoạn 2016–2020 được xác định theo hướng kết hợp cả yếu tố thu nhập và mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội, gồm 4 nhóm đối tượng:
- Hộ nghèo: Có thu nhập dưới chuẩn nghèo chính sách hoặc thu nhập trên chuẩn nhưng thiếu hụt từ 1/3 dịch vụ trở lên.
- Hộ cận nghèo: Thu nhập trên chuẩn nghèo chính sách nhưng dưới chuẩn sống tối thiểu, thiếu hụt dưới 1/3 dịch vụ.
- Hộ chưa tiếp cận đủ dịch vụ xã hội cơ bản: Thu nhập trên chuẩn sống tối thiểu nhưng thiếu hụt từ 1/3 chỉ số trở lên.
- Hộ dưới mức sống trung bình: Thu nhập từ dưới chuẩn mức sống trung bình đến trên chuẩn sống tối thiểu.
Khái niệm giảm nghèo bền vững
Giảm nghèo bền vững là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong các chính sách an sinh xã hội tại Việt Nam, tuy chưa có định nghĩa thống nhất. Tuy nhiên, dựa trên các văn bản pháp lý quan trọng như Nghị quyết số 30a/NQ-CP (2008), Nghị quyết số 80/NQ-CP (2010), hay Quyết định số 1489/QĐ-TTg (2012), GNBV có thể được hiểu là quá trình hỗ trợ người nghèo thoát nghèo một cách ổn định, đồng thời tăng cường năng lực thích ứng để không bị tái nghèo trước các rủi ro về thiên tai, kinh tế và xã hội.
Giảm nghèo bền vững hướng tới phát triển bền vững trên cả ba trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường, đảm bảo người dân tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nước sạch, nhà ở… và đạt mức thu nhập ổn định, cao hơn chuẩn nghèo trong dài hạn.
Các tiêu chí cốt lõi của giảm nghèo bền vững gồm:
- Thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu về đời sống
- Thu nhập tăng và duy trì ở mức cao
- Thoát nghèo và không tái nghèo
Giảm nghèo bền vững không chỉ là xóa đói giảm nghèo trước mắt mà còn là chiến lược dài hạn nhằm bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng sống, và thu hẹp bất bình đẳng xã hội, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs).
Khái niệm: Chính sách giảm nghèo bền vững là gì?

Chính sách giảm nghèo bền vững là một tập hợp các quyết định, chương trình và cơ chế được Nhà nước ban hành nhằm hỗ trợ người nghèo vươn lên bằng chính nội lực, hướng tới xóa đói giảm nghèo một cách ổn định và lâu dài. Những chính sách này bao gồm các nguồn lực tài chính, vật chất, quy trình triển khai và đối tượng tác động cụ thể như cá nhân nghèo, hộ nghèo, xã nghèo, nhằm đảm bảo công bằng xã hội và nâng cao phúc lợi toàn dân. Nói một cách cụ thể, chính sách giảm nghèo bền vững là một hệ thống chính sách tổng thể, được tích hợp đồng bộ trong nhiều chủ trương, chính sách và pháp luật của cả Trung ương và địa phương. Trong đó, hai Chương trình mục tiêu quốc gia trọng tâm là Chương trình giảm nghèo bền vững và Chương trình xây dựng nông thôn mới đóng vai trò then chốt. Chương trình giảm nghèo bền vững đã được triển khai qua hai giai đoạn chính: 2011-2015 và 2016-2020.
Năm 2011, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 13/2011/QH13 về Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2011-2015, ưu tiên giảm nghèo bền vững. Chính phủ tiếp đó ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020, đồng thời Thủ tướng phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững 2012-2015. Đối tượng chính của chương trình là các hộ nghèo, cùng các huyện và xã nghèo trên cả nước.
Giai đoạn 2016-2020, Chương trình tập trung các nội dung thiết yếu như: (i) hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng sản xuất và sinh hoạt cho các huyện, xã nghèo; phát triển đa dạng sinh kế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời khuyến khích xuất khẩu lao động nhằm tăng thu nhập và giảm nghèo bền vững; (ii) ưu tiên hỗ trợ các xã nghèo miền núi, vùng biên giới với đầu tư kết cấu hạ tầng, phát triển sinh kế và nâng cao năng lực cán bộ cơ sở; (iii) hỗ trợ sinh kế cho các xã không thuộc dự án 30A và 135; (iv) đẩy mạnh truyền thông về giảm nghèo và nâng cao khả năng tiếp cận thông tin cho người nghèo; và (v) tăng cường năng lực giám sát, đánh giá chương trình của Chính phủ.
Từ năm 2016, việc áp dụng chuẩn nghèo mới theo tiếp cận đa chiều đã cho phép đo lường toàn diện tình trạng nghèo của hộ gia đình. Ngoài tiêu chí thu nhập, yếu tố tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, vệ sinh môi trường và truyền thông cũng được xem xét. Chính sách giảm nghèo đã được điều chỉnh theo hướng toàn diện, bao gồm hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo. Các chính sách bổ sung như bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, tín dụng ưu đãi, hỗ trợ sản xuất và tạo sinh kế được triển khai nhằm thúc đẩy ổn định đời sống. Mô hình giảm nghèo bền vững được liên kết chặt chẽ với phát triển sinh kế, tạo việc làm, đào tạo nghề và xuất khẩu lao động, nhằm nâng cao hiệu quả và bền vững trong công cuộc giảm nghèo quốc gia.
Chính sách giảm nghèo bền vững không chỉ nhằm giải quyết tình trạng nghèo đói trước mắt mà còn tạo nền tảng cho phát triển bao trùm, bảo đảm an sinh xã hội và công bằng xã hội trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội bền vững của đất nước.
Xem thêm:
» 05 Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Về Giảm Nghèo Bền Vững 2025
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tổ chức và triển khai chính sách giảm nghèo bền vững, bao gồm cả yếu tố tích cực và tiêu cực; trong đó có những nhân tố thuộc về Nhà nước, chính các đối tượng hưởng chính sách, cùng các yếu tố kinh tế – xã hội liên quan.
Thứ nhất, về nhận thức: Quan điểm và nhận thức của các cơ quan quản lý, đặc biệt là ở địa phương, trong việc đề xuất, xây dựng và thực hiện các chính sách, chương trình giảm nghèo rất quan trọng. Nhận thức đúng đắn và thống nhất giữa các chủ thể hoạch định và thực thi chính sách tạo cơ sở cho hiệu quả thực tiễn. Sự khác biệt về nhận thức dẫn đến cơ chế thực hiện và mức độ ưu tiên khác nhau. Ví dụ, một số cơ quan quản lý nhà nước tập trung ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng ở vùng nghèo nhưng chưa hiểu rõ đây là trách nhiệm của Nhà nước, nên dẫn đến cơ chế đầu tư theo kiểu ban phát, xin – cho gây thất thoát, lãng phí và kém hiệu quả. Một số địa phương còn sử dụng nguồn lực một cách thiếu hợp lý, gây thiệt hại hoặc làm giảm khả năng tự phát triển của người nghèo. Do đó, quan niệm về giảm nghèo bền vững cần được làm rõ và bám sát nội dung, tư tưởng cốt lõi, dù các địa phương, vùng miền có thể có cách làm khác nhau phù hợp điều kiện đặc thù.
Thứ hai, về nguồn lực đảm bảo thực hiện chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo: Ở Việt Nam, ngân sách Nhà nước là nguồn kinh phí chủ đạo và cân đối quan trọng cho công tác giảm nghèo.
Thứ ba, về công tác tổ chức triển khai và kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các chương trình giảm nghèo: Giảm nghèo bền vững đòi hỏi tác động đồng bộ, lồng ghép các chính sách và chương trình có hiệu quả, như Chương trình 135, Nghị quyết 30a của Chính phủ đã nhanh chóng hỗ trợ các huyện, xã và hộ nghèo, tạo tiền đề vững chắc trong công cuộc giảm nghèo ở địa phương và trên toàn quốc. Việc thực hiện đồng bộ, tránh trùng lặp, và xây dựng hệ thống chỉ tiêu, phương pháp đánh giá phù hợp có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả giảm nghèo. Nhà nước với vai trò quản lý vĩ mô có thể kiểm soát và điều chỉnh chính sách đa chiều tác động đến giảm nghèo, đồng thời cần có cơ chế chính sách vừa khuyến khích tăng trưởng kinh tế gắn liền với giảm nghèo bền vững, vừa hạn chế tái nghèo, đảm bảo người nghèo và nhóm thu nhập thấp được hưởng lợi từ thành quả phát triển kinh tế.
Ngoài ra, các yếu tố đặc thù vùng miền cũng tác động trực tiếp đến quá trình giảm nghèo bền vững:
Điều kiện tự nhiên:
- Vị trí địa lý ảnh hưởng đến phát triển giao thông vận tải, quốc phòng an ninh.
- Đất đai: Thiếu đất canh tác hoặc đất khó sản xuất làm gia tăng cảnh thiếu thốn, nhất là đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp trong khi dân số tăng nhanh. Ở vùng biển không có đất trồng lúa, đây là yếu tố cơ bản khiến hộ nghèo khó thoát nghèo, đặc biệt sau các sự cố môi trường.
- Khí hậu và thiên tai: Các điều kiện khí hậu khắc nghiệt, thiên tai (bão, lụt, hạn hán) thường xuyên gây thiệt hại lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống, gây tổn thất tài sản, nhân mạng và tạo gánh nặng lâu dài cho người nghèo.
Điều kiện xã hội:
- Dân số và mật độ dân số: Quy mô, tốc độ tăng dân số và chất lượng nguồn nhân lực ảnh hưởng đến hiệu quả giảm nghèo.
- Tôn giáo, tín ngưỡng: Các tôn giáo truyền thống đóng vai trò hỗ trợ phát triển kinh tế và an sinh xã hội thông qua hoạt động từ thiện và hỗ trợ cộng đồng. Tuy nhiên, sự xâm nhập của một số tôn giáo mới có thể gây xung đột văn hóa, chia rẽ cộng đồng, ảnh hưởng đến an ninh xã hội và hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo.
- Dân tộc: Giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ trọng yếu. Thói quen, tập quán sản xuất lạc hậu, quan niệm bảo thủ cản trở tiếp nhận kiến thức, kinh nghiệm làm ăn mới, ảnh hưởng đến phát triển sản xuất, kinh doanh và thoát nghèo, đồng thời gây khó khăn trong thực thi pháp luật và an ninh trật tự, làm chậm phát triển kinh tế – xã hội.
Điều kiện kinh tế – hạ tầng:
- Môi trường kinh tế yếu kém, cơ sở hạ tầng thấp kém, thị trường hoạt động kém phát triển gây khó khăn cho giảm nghèo. Hệ thống thủy lợi, kênh mương xuống cấp ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.
- Cơ sở hạ tầng thiết yếu như giao thông, điện, trường học, y tế, bưu điện, chợ huyện… còn hạn chế, nhất là vùng dân tộc thiểu số và vùng sâu vùng xa thiếu cơ hội tiếp cận các dịch vụ tài chính, thị trường hàng hóa.
Phát triển khoa học và công nghệ: Khoa học công nghệ nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí, tăng chất lượng sản phẩm và là động lực then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, góp phần giảm nghèo bền vững.
Tổng hợp lại, giảm nghèo bền vững là sự phối hợp hài hòa các yếu tố nhận thức, nguồn lực, tổ chức thực thi cùng các điều kiện tự nhiên, xã hội và kinh tế, dựa trên nền tảng phát triển khoa học công nghệ nhằm tạo ra tác động đa chiều, lâu dài và bền vững cho cộng đồng người nghèo.
Hiểu rõ giảm nghèo bền vững là gì không chỉ giúp xác định đúng mục tiêu của chính sách mà còn tạo nền tảng cho việc xây dựng và triển khai các giải pháp thực tiễn hiệu quả. Tại Việt Nam, giảm nghèo bền vững đã và đang trở thành định hướng lâu dài trong phát triển kinh tế – xã hội, với cách tiếp cận đa chiều, chú trọng đến việc nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, việc làm và nhà ở cho người dân. Tuy nhiên, để trả lời trọn vẹn câu hỏi “giảm nghèo bền vững là gì” trong thực tiễn, cần nhìn nhận rõ những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách như: sự phối hợp giữa các cấp, năng lực tổ chức tại cơ sở, sự phù hợp giữa chính sách trung ương và điều kiện địa phương, cũng như mức độ chủ động của người dân. Giảm nghèo không thể đạt được kết quả bền vững nếu thiếu sự đồng thuận, linh hoạt và đầu tư đúng hướng. Chính vì vậy, việc nâng cao nhận thức, hoàn thiện khung chính sách và huy động sự tham gia của toàn xã hội là điều kiện tiên quyết để giảm nghèo bền vững không chỉ là mục tiêu, mà còn trở thành động lực phát triển của quốc gia trong thời kỳ hội nhập sâu rộng.
