Trang chủ Tài liệu chuyên ngành Đô Thị Hóa Là Gì? Quá Trình Đô Thị Hóa Ở Nước Ta Hiện Nay

Đô Thị Hóa Là Gì? Quá Trình Đô Thị Hóa Ở Nước Ta Hiện Nay

Người viết: Admin |

Hiện nay, có thể thấy rằng quá trình đô thị hoá đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng trên phạm vi cả nước với sự xuất hiện các khu vực trung tâm và các thành phố lớn. Hơn một nửa dân số thế giới hiện đang sống ở khu vực thành thị – ngày càng có nhiều thành phố có mật độ dân số cao. Khi nền kinh tế càng phát triển thì quá trình đô thị hoá diễn ra với tốc độ nhanh chóng nên đô thị hoá cũng là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Việt Nam cũng đang trong quá trình đô thị hoá một cách mạnh mẽ tác động lên nhiều mặt của kinh tế – xã hội. Để hiểu rõ hơn về đô thị hoá là gì và quá trình đô thị hoá ở nước ta hiện nay, chúng ta cùng tham khảo bài viết sau đây nhé.

Khái niệm Đô thị hóa là gì?

do thi hoa la gi luanvanbeta
Khái niệm Đô thị hóa là gì?

Đô thị hóa (Tiếng Anh: Urbanization) là thuật ngữ được sử dụng rất nhiều hiện nay. Có nhiều định nghĩa về đô thị hóa được đưa ra trên thế giới & tại Việt Nam:

Theo Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị: Đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp với hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành tổng hợp với vai trò là thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, của một miền lãnh thổ, một tỉnh hoặc một vùng.

Đô thị là một tổ chức không gian cư trú, sinh sống tập trung với mật độ dân số cao của cộng động người với các hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực phi nông nghiệp. Ngày nay, thuật ngữ đô thị được dùng để chỉ tất cả các thành phố, thị trấn, thị xã. Mỗi loại đô thị sẽ có những yêu cầu riêng về vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu,…

Theo từ điển Việt Nam: Đô thị hoá là một quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị điều này nâng cao vai trò của thành thị đối với sự phát triển của xã hội.

Theo nhà đô thị học Đàm Trung Phường: Đô thị hoá là quá trình chuyển dịch lao động từ hoạt động sơ khai để khai thác tài nguyên thiên nhiên sẵn có như nông, lâm, ngư nghiệp,…phân tán trên một diện tích rộng khắp hầu như toàn quốc sang những hoạt động tập trung hơn như công nghiệp chế biến, sản xuất, xây dựng cơ bản,…Quá trình đô thị hoá diễn ra song song với động thái phát triển không gian kinh tế – xã hội, phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của nền văn hoá và phương thức tổ chức lối sống xã hội.

Theo Viện nghiên cứu phát triển kinh tế – xã hội Hà Nội: Đô thị hoá được nhìn nhận từ hai góc độ, một là quá trình hình thành và phát triển các điểm dân cư được tập hợp lại và phổ biến lối sống thành thị, đồng thời phát triển các hoạt động khác nhau cho sự tồn tại và phát triển trong cộng đồng đó. Mặt khác, đô thị hóa cũng là quá trình mở rộng biên giới lãnh thổ đô thị do nhu cầu công nghiệp hoá, thương mại, dịch vụ và giao lưu quốc tế- là sự tăng trưởng về không gian đô thị từ phát triển dân số và phát triển sản xuất.

Có thể thấy, chưa có một khái niệm nào cụ thể và thống nhất nhưng có hai yếu tố luôn được nhắc đến về đô thị hoá, gồm:

Thứ nhất, đô thị hoá là sự tăng lên cư dân đô thị. Sự tăng lên này theo 3 dòng chính là tăng dân số tự nhiên của cư dân đô thị, dòng di dân từ nông thôn và sự điều chỉnh về biên giới lãnh thổ hành chính của đô thị. Ba dòng này có vai trò và vị trí khác nhau theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể.

Thứ hai, đô thị hoá là sự mở rộng không gian đô thị và không gian kiến trúc. Mở rộng không gian đô thị là yếu tố tất yếu đối với các đô thị trên thế giới trong quá trình đô thị hoá.

Từ những lập luận trên, có thể khái quát về đô thị hoá như sau: Đô thị hoá là quá trình chuyển đổi một khu vực, một vùng nào đó từ chưa đô thị thành đô thị như những vùng ven đô thị hay ngoại thành. Khi có cơ hội đô thị hoá, từ đô thị mở rộng không gian và diện tích cũng như thu hút luồng di cư của dân không nhất thiết từ đô thị trung tâm mà cả những vùng khác.

Biểu hiện cơ bản của quá trình đô thị hoá

Dân số đô thị ngày càng tập trung đông vào các đô thị: Dân cư ngày càng tập trung đông vào các đô thị làm cho số lượng đô thị trên thế giới ngày càng tăng nhanh chóng về số lượng thị dân lẫn quy mô dân số. Để đánh giá mức độ đô thị hoá, người ta thường dựa vào tỉ lệ dân số đô thị và tốc độ tăng dân số đô thị. Các nước kinh tế phát triển cao có tỷ lệ dân số đô thị cao và các nước đang phát triển có tỷ lệ dân số đô thị thấp.

Quá trình tập trung dân số ngày càng đông vào các đô thị lớn và cực lớn: Dân số đô thị ngày càng tăng lên trên phạm vi toàn cầu cả về số lượng tuyệt đối và tương đối làm cho tỉ lệ dân số đô thị ngày càng tăng lên. Sự tăng dân số đô thị lớn và cực lớn là đặc điểm nổi bật cho quá trình đô thị hoá ngày nay. Tuy nhiên, việc tập trung dân cư đô thị lớn cũng đặt ra nhiều vấn đề cho môi trường và tổ chức đời sống dân cư.

Lãnh thổ đô thị không ngừng mở rộng: Đô thị hoá thể hiện cho quá trình mở rộng diện tích đô thị và sự tập trung dân cư vào các đô thị lớn, tăng số lượng đô thị và phổ biến lối sống đô thị vào nông thôn. Quá trình đô thị hoá làm cho diện tích đô thị ngày càng chiếm nhiều diện tích của trái đất do cần xây dựng các tuyến đường giao thông chính, các khu dân cư, khu thương mại,…Đôi khi sự gia tăng diện tích lãnh thổ còn tăng nhanh hơn so với gia tăng dân số đô thị.

Phổ biến rộng rãi lối sống đô thị vào nông nông: Lối sống bao gồm những điều kiện và hình thức hoạt động sống của con người, là đặc trưng xã hội, giai cấp và tầng lớp nhất định. Đô thị hoá là quá trình chuyển đổi lối sống nông thôn sang lối sống đô thị. Quá trình này làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến các hoạt động sinh hoạt và sản xuất ở nông thôn, làm cho các hoạt động của nông thôn xích lại gần với đô thị.

Các thời kỳ của đô thị hoá

Quá trình đô thị hoá diễn ra qua 3 thời kỳ cụ thể như sau:

Thời kỳ đô thị hoá tiền cách mạng công nghiệp: Thời kỳ này với sự xuất hiện của chiếc quay sợi, biểu trưng cho văn minh nông nghiệp và tương ứng với cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ 1 hay cách mạng thủ công nghiệp kéo dài đến nửa đầu thế kỷ 18.

Thời kỳ đô thị hóa cách mạng công nghiệp: Thời kỳ này có sự xuất hiện của động cơ máy hơi nước, đặc trưng cho nền văn minh công nghiệp tương ứng với cách mạng kỹ thuật lần thứ 2 hay cách mạng công nghiệp bắt đầu ở nước Anh vào nửa sau thế kỷ 18.

Thời kỳ đô thị hóa hậu công nghiệp: Với sự ra đời của máy tính điện tử đã biểu trưng cho văn minh tin học hay văn minh trí tuệ tương ứng với cách mạng khoa học- kỹ thuật đã và đang diễn ra từ thập niên 40 của thế kỷ 20 cho đến ngày nay.

Ở mỗi thời kỳ, quá trình đô thị hoá đều góp phần tạo nên phong cách làm việc, ăn, ở và một hình thái phân bố dân cư với cấu trúc đô thị tương ứng.

Xu hướng đô thị hóa trên thế giới

Đô thị hóa là sự gia tăng số lượng người sống ở các thị trấn và thành phố. Đô thị hóa xảy ra chủ yếu do người dân di chuyển từ nông thôn ra thành thị và dẫn đến sự tăng trưởng về quy mô dân số đô thị và quy mô của các khu đô thị. Những thay đổi về dân số này dẫn đến những thay đổi khác trong sử dụng đất, hoạt động kinh tế và văn hóa. Trong lịch sử, đô thị hóa gắn liền với những biến đổi đáng kể về kinh tế và xã hội. Ví dụ, cuộc sống thành thị gắn liền với trình độ đọc viết và giáo dục cao hơn, sức khỏe tốt hơn, mức sinh thấp hơn và tuổi thọ dài hơn, khả năng tiếp cận nhiều hơn với các dịch vụ xã hội và tăng cường cơ hội tham gia văn hóa và chính trị (UNDESA, 2014). Tuy nhiên, đô thị hóa cũng có những bất lợi do tăng trưởng đô thị nhanh và không có kế hoạch, dẫn đến cơ sở hạ tầng kém như nhà ở, nước và vệ sinh, giao thông và dịch vụ chăm sóc sức khỏe không đầy đủ.

Năm 1960, dân số đô thị toàn cầu chiếm 34% tổng dân số; tuy nhiên, đến năm 2014, dân số thành thị chiếm 54% tổng dân số và tiếp tục tăng. Đến năm 2050, tỷ lệ sống ở khu vực thành thị dự kiến ​​sẽ đạt 66% (UNDESA, 2014). Sự thay đổi về dân số nông thôn và thành thị trên thế giới từ năm 1950 đến số liệu dự kiến ​​đến năm 2050 biểu hiện thông qua sơ đồ bên dưới:

xu huong do thi hoa luanvanbeta
Dân số thành thị và nông thôn trên thế giới, 1950–2050. (UNDESA, 2014)

Quá trình đô thị hóa ảnh hưởng đến mọi quy mô của các khu định cư, vì vậy các làng dần dần phát triển thành thị trấn nhỏ, thị trấn nhỏ trở thành thị trấn lớn hơn và thị trấn lớn trở thành thành phố. Xu hướng này đã dẫn đến sự phát triển của các thành phố lớn. Siêu thành phố là một khu đô thị có hơn mười triệu dân. Việc mở rộng nhanh chóng ranh giới thành phố, do sự gia tăng dân số và phát triển cơ sở hạ tầng, dẫn đến việc mở rộng ranh giới thành phố, lan rộng và nuốt chửng các khu đô thị lân cận để hình thành các thành phố lớn. Năm 1970, chỉ có ba siêu thành phố trên toàn cầu, nhưng đến năm 2000, con số này đã tăng lên 17 và đến năm 2030, sẽ có thêm 24 siêu thành phố nữa.

Xu hướng đô thị hóa toàn cầu không giống nhau ở mọi nơi trên thế giới. Châu Á và Châu Phi hiện có tỷ lệ đô thị hóa cao nhất.

Nguyên nhân đô thị hóa là gì?

Đô thị hóa ở các nước đang phát triển xảy ra vì hai lý do chính: sự gia tăng dân số tự nhiên và sự di cư từ nông thôn ra thành thị:

  • Gia tăng dân số tự nhiên: Sự gia tăng tự nhiên này là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến dân số đô thị ngày càng tăng.
  • Di cư từ nông thôn ra thành thị: Ở các nước đang phát triển, đô thị hóa thường xảy ra khi người dân di chuyển từ làng mạc đến định cư tại các thành phố với hy vọng có được mức sống tốt hơn. Sự di chuyển của con người từ nơi này đến nơi khác được gọi là di cư. Di cư bị ảnh hưởng bởi tăng trưởng và phát triển kinh tế cũng như bởi sự thay đổi công nghệ (Marshall và cộng sự, 2009) và có thể còn do xung đột và gián đoạn xã hội. Nó được thúc đẩy bởi các yếu tố kéo thu hút người dân đến khu vực thành thị và các yếu tố đẩy đẩy người dân rời xa nông thôn. Cơ hội việc làm ở các thành phố là một trong những yếu tố thu hút chính. Nhiều ngành công nghiệp được đặt tại các thành phố và mang lại cơ hội có mức lương cao ở thành thị. Ngoài ra còn có nhiều cơ sở giáo dục cung cấp các khóa học và đào tạo về nhiều môn học và kỹ năng. Mọi người bị thu hút bởi lối sống thành thị và ‘ánh sáng rực rỡ’ của cuộc sống thành phố. Tất cả những yếu tố này dẫn đến tình trạng di cư tạm thời và lâu dài đến các khu vực thành thị. Điều kiện sống nghèo nàn và thiếu cơ hội việc làm được trả lương ở khu vực nông thôn là những yếu tố thúc đẩy. Người dân đang rời xa khu vực nông thôn vì chăm sóc sức khỏe kém, cơ hội giáo dục và kinh tế hạn chế cũng như những thay đổi về môi trường, hạn hán, lũ lụt, thiếu đất sản xuất và những áp lực khác đối với sinh kế ở nông thôn. Di cư từ nông thôn ra thành thị có thể là một quá trình có chọn lọc, vì một số nhóm người có nhiều khả năng di chuyển hơn những nhóm khác. Một trong những yếu tố liên quan là giới tính, vì cơ hội việc làm rất khác nhau đối với các công việc khác nhau dành cho nam và nữ. Một yếu tố khác là tuổi tác. Những người trẻ tuổi có xu hướng di chuyển đến các thành thị nhiều hơn, còn nhiều người già và trẻ em ở lại khu vực nông thôn hơn. Tính chọn lọc trong di cư ảnh hưởng đến dân số ở cả khu vực nông thôn và thành thị. Nếu nhiều nam giới chuyển đến các thị trấn và thành phố hơn phụ nữ, điều này sẽ dẫn đến một xã hội chủ yếu là phụ nữ ở khu vực nông thôn.

Tác động của đô thị hóa

Đến năm 2050, dự kiến ​​68% dân số thế giới sẽ sống ở khu vực thành thị. Phát triển đô thị hấp dẫn nhiều người dân nông thôn vì nó tạo ra nhiều cơ hội trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống của họ. Tuy nhiên, nhiều yếu tố của đô thị hóa có thể trở thành gánh nặng cho thành phố và người dân nếu không được quy hoạch cẩn thận. Để hiểu hơn về vấn đề này, chúng ta sẽ xem xét từng tác động tích cực – tiêu cực của đô thị hóa:

Ảnh hưởng tích cực của đô thị hóa:

Đô thị hóa có ảnh hưởng đặc biệt đối với những người đến từ khu vực nông thôn. Khu vực thành thị có thể tạo ra chất lượng cuộc sống tổng thể tốt hơn ở nhiều khía cạnh. Khi các khu đô thị trở thành những thành phố và thị trấn nhộn nhịp, chúng trở thành một xã hội văn hóa có thể tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển về tài chính và giáo dục.

Các thị xã và thành phố phát triển mạnh là một yếu tố thiết yếu của nền kinh tế quốc gia thịnh vượng. Việc tập hợp các nguồn lực kinh tế và con người vào một nơi sẽ kích thích sự đổi mới và phát triển trong kinh doanh, khoa học, công nghệ và công nghiệp. Người dân ở thành phố dễ dàng tiếp cận giáo dục, y tế, dịch vụ xã hội và các hoạt động văn hóa hơn ở nông thôn. Ở các thành phố, tỷ lệ sống sót của trẻ em cao hơn ở khu vực nông thôn do được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt hơn (Mulholland và cộng sự, 2008). Mật độ dân số đô thị giúp chính phủ và các cơ quan công ích cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu dễ dàng và ít tốn kém hơn (Brockerhoff, 2000). Ví dụ, việc cung cấp các tiện ích cơ bản như nước ngọt và điện có thể đạt được với ít nỗ lực hơn và chi phí đầu người ít hơn.

Các trường phổ thông, cao đẳng, đại học được thành lập ở các thành phố nhằm phát triển nguồn nhân lực. Trường có nhiều khóa học giáo dục đa dạng, mang đến cho sinh viên nhiều lựa chọn cho nghề nghiệp tương lai của mình. Người dân thuộc nhiều tầng lớp và tôn giáo cùng sống và làm việc cùng nhau tại các thành phố, điều này tạo ra sự hiểu biết và hòa hợp tốt hơn, đồng thời giúp phá bỏ các rào cản văn hóa và xã hội. Các thành phố cũng có mạng lưới giao thông và truyền thông tiên tiến.

Ảnh hưởng tiêu cực của đô thị hóa:

Bên cạnh những tác động tích cực, việc dân số tăng nhanh và tăng trưởng không có kế hoạch (đô thị hóa tự phát) tạo ra sự mở rộng đô thị với những hậu quả tiêu cực về kinh tế, xã hội và môi trường. Tốc độ tăng trưởng đô thị thường hạn chế năng lực của chính quyền địa phương và quốc gia trong việc cung cấp cho cư dân đô thị những dịch vụ cơ bản nhất về nhà ở, cấp nước, thoát nước và xử lý chất thải rắn. Cụ thể:

  • Nhà ở: Ở các nước đang phát triển, khoảng một phần ba cư dân đô thị sống trong các khu ổ chuột nghèo khó và các khu định cư lấn chiếm . Khu ổ chuột là những khu đô thị đông dân cư và có nhà ở dưới tiêu chuẩn với điều kiện sống rất tồi tàn, gây ra một số vấn đề nghiêm trọng đến sức khỏe con người.
  • Cấp nước và vệ sinh: Việc cung cấp dịch vụ nước và vệ sinh cho các khu định cư đô thị đang phát triển, các khu vực ven đô và khu ổ chuột đặt ra những thách thức nghiêm trọng. Nhu cầu về nước ngày càng tăng từ dân số ngày càng tăng có thể gây thêm căng thẳng cho các nguồn tài nguyên vốn đã cạn kiệt. Đặc biệt khó khăn trong việc cung cấp dịch vụ nước và vệ sinh cho các khu vực thiếu thốn và những người nghèo nhất. Nhiều người dân ở những khu vực này sống không được tiếp cận với nước uống an toàn và vệ sinh phù hợp. Ngay cả khi có đủ nguồn cung cấp nước, hệ thống vệ sinh và xử lý nước thải thường không đầy đủ hoặc thiếu, điều này sẽ gây ô nhiễm nguồn nước mặt và gây nguy cơ nghiêm trọng cho sức khỏe con người.
  • Chất thải và ô nhiễm: Đô thị hóa ảnh hưởng đến đất, nước, không khí và động vật hoang dã vì số lượng người, số lượng tòa nhà và công trình cũng như nhu cầu về tài nguyên ngày càng tăng. Nó có tác động đến môi trường vật lý theo nhiều cách.
  • Sức khỏe: Đô thị hóa có thể có cả tác động tích cực và tiêu cực đến sức khỏe. Những lợi ích chính liên quan đến việc tiếp cận dễ dàng hơn với các bệnh viện, phòng khám và dịch vụ y tế nói chung. Tuy nhiên, cuộc sống thành thị cũng có thể hủy hoại sức khỏe của bạn. Môi trường, nhà ở và điều kiện sống kém là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng sức khỏe kém ở khu vực thành thị. Ô nhiễm nguồn nước có thể gây ra dịch bệnh lây truyền qua đường nước. Việc ở gần những người khác có thể làm tăng khả năng lây lan của nhiều loại bệnh truyền nhiễm. Không khí ô nhiễm cũng có thể gây ra bệnh hô hấp và góp phần gây tử vong sớm ở những bộ phận dân cư dễ bị tổn thương hơn như người già và trẻ em.
  • Thức ăn: Sự di chuyển dân số cũng gây áp lực lên nguồn cung lương thực và phân phối lương thực. Khi người dân di cư đến các thành phố, họ có xu hướng sử dụng thực phẩm mua thay vì cây trồng của mình và điều này khiến họ dễ bị tổn thương hơn trước những thay đổi về giá lương thực. Khi dân số tăng và nhu cầu về nước và đất tăng lên, việc tăng sản lượng lương thực một cách bền vững trở nên khó khăn. Nhu cầu đô thị tăng lên, kết hợp với việc mất đất nông nghiệp, đồng nghĩa với việc người dân nông thôn phải chịu nhiều áp lực hơn trong việc sản xuất lương thực cho số lượng người dân thành thị ngày càng tăng. Hơn nữa, ô nhiễm từ các khu vực đô thị có thể làm gián đoạn nguồn cung cấp thực phẩm.
  • Hệ thống kinh tế và xã hội: Quá trình đô thị hóa có những thay đổi tích cực cũng như tiêu cực về kinh tế, xã hội. Những tác động tích cực bao gồm phát triển kinh tế và giáo dục. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa gây áp lực lên các dịch vụ xã hội và cơ sở hạ tầng hiện có. Tội phạm, mại dâm, lạm dụng ma túy và trẻ em đường phố đều là những tác động tiêu cực của đô thị hóa. Thu nhập không tương xứng, nhà ở quá đông đúc và điều kiện sống tồi tàn tạo mảnh đất màu mỡ cho bạo lực phát triển.

Quá trình đô thị hoá ở Việt Nam

Thời kỳ phong kiến: Từ cuối thế kỷ 19, nước ta mới chỉ hình thành một số đô thị phong kiến chủ yếu là các trung tâm hành chính và thương mại nhưng đây chỉ là các đô thị nhỏ và yếu, chưa thực sự là các trung tâm kinh tế giữ vai trò chủ đạo đối với khu vực tiêu biểu như Thăng Long, Phố Hiến, Hội An,…

Thời kỳ thuộc địa Pháp: Xuất hiện nhiều thành phố lớn với mục đích khai thác thuộc địa của tư bản là chủ yếu. Người Pháp xây dựng đô thị với tư cách là nơi tập trung cơ quan đầu não về hành chính và quân sự, là trung tâm chỉ huy bộ máy kềm kẹp của chúng với một số thành phố như Hà Nội, Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng và một số thương cảnh, quân cảng khác.

Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước: Thời kỳ này, nước ta tạm thời bị chia cắt hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau nên quá trình đô thị hoá cũng diễn ra theo 2 xu hướng khác nhau như sau: Ở miền Bắc diễn ra quá trình “Giải độ thị hoá” tạm thời để giảm thiệt hại do chiến tranh, chúng ta phải sơ tán một cách triệt để dân cư và cơ sở sản xuất công nghiệp về nông thôn. Ở miền Nam diễn ra quá trình “đô thị hóa cưỡng bức” do chiến tranh đe dọa và chính sách mở rộng chiến tranh bình định nông thôn của Mỹ, hàng triệu người dân từ nông thôn, núi rừng, đồng bằng bị kéo về thành phố.

Thời kỳ từ năm 1975 đến nay: Đây là thời kỳ mới khi đất nước thống nhất nên các thành phố đang từng bước trở thành trung tâm kinh tế, chính trị và xã hội cho cả nước. Sau đại hội lần thứ 6 của Đảng, nước ta chuyển từ cơ cấu kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường dưới sự điều tiết của nhà nước. Do đó, quá trình đô thị hóa phát triển với tốc độ nhanh hơn với cường độ mạnh hơn, phát triển cả bề rộng lẫn bề sâu nên bộ mặt đô thị có nhiều thay đổi rõ nét.

Đặc điểm của đô thị hoá ở nước ta là gì?

Đô thị hóa trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và toàn cầu hoá: Quá trình đô thị hoá ở Việt Nam diễn ra trong điều kiện thế giới bước vào giai đoạn toàn cầu hoá. Toàn cầu hoá tạo điều kiện thuận lợi cho đô thị hóa phát triển nhưng cũng gây ra nhiều bất cập mà nền kinh tế chưa phát triển tương thích hoặc nhiều vấn đề phát sinh không phù hợp với văn hoá truyền thống. Quá trình đô thị hoá ngày nay gắn với công nghiệp hoá và hiện đại hoá với nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất được xây dựng và nhanh chóng trở thành những trung tâm của đô thị mới thu hát rất nhiều công nhân từ khắp nơi đổ về.

Quá trình đô thị hoá ở nước ta trên cơ sở và không tách rời nền kinh tế tiểu nông: Quá trình đô thị hoá ở nước ta cũng là quá trình tập trung dân số, tích tụ nguồn vốn, tạo ra việc làm, thị trường và nhiều sản phẩm mới. Thực chất đây là quá trình phát triển, mở rộng thành thị về vùng ven đô, nông thôn.

Đô thị nước ta được phát triển với tốc độ nhanh dẫn đến sự chênh lệch giữa văn hoá vật chất với văn hoá tinh thần: Trong thời gian phát triển đô thị hoá, một số đô thị lớn phát triển rất nhanh trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá- xã hội vùng và cả nước, hội tụ nhân tài, vật lực và trở thành thị trường lớn thu hút lao động, cung cấp sản phẩm, dịch vụ có giá trị cao tác dụng như đầu tàu kéo cả nền kinh tế đi lên. Nhưng quá trình phát triển nhanh chóng về vật chất cũng tạo nên sự chênh lệch với các giá trị tinh thần lâu đời của dân tộc.

Đô thị hoá và quá trình đô thị hoá đang diễn ra nhanh chóng gắn với cuộc cách mạng về công nghệ kỹ thuật trên toàn cầu. Để đô thị hoá diễn ra một cách bền vững, cần có sự cân bằng giữa các giá trị vật chất và bảo tồn những giá trị tinh thần của dân tộc một cách bền vững. Qua bài viết này, Luận Văn Beta hy vọng bạn đọc đã có thêm những kiến thức về đô thị hóa là gì phục vụ cho học tập nói riêng và trong công việc, cuộc sống nói chung. Bạn đang cần hỗ trợ với bài luận về đô thị hóa, hãy liên hệ với đội ngũ của chúng tôi để được hỗ trợ nhé!

5/5 - (1 bình chọn)
guest
0 Bình luận
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận