Trang chủ Tài liệu chuyên ngành Hàng Hóa Là Gì? Phân Tích Hai Thuộc Tính Của Hàng Hóa

Hàng Hóa Là Gì? Phân Tích Hai Thuộc Tính Của Hàng Hóa

Đăng ngày
6 Tháng Ba, 2024

Có thể nói rằng, hàng hoá có vai trò quan trọng đối với mọi xã hội vì con người chúng ta luôn cần những mặt hàng để đáp ứng nhu cầu ăn, uống, đi lại,…của mình. Vì vậy, sự ra đời của hàng hoá là nhu cầu cần thiết nên việc hiểu rõ về hàng hoá cũng như các tính chất của hàng hoá sẽ giúp chúng ta có thể tạo thêm nhiều mặt hàng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người.

Khái niệm Hàng hóa là gì?

Sản xuất hàng hoá

Theo C. Mác, sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức hoạt động kinh tế mà qua đó người sản xuất ra sản phẩm nhằm mục đích trao đổi, mua bán trên thị trường.

Điều kiện của sản xuất hàng hoá

Sản xuất hàng hoá không xuất hiện đồng thời với sự xuất hiện của xã hội loài người mà được hình thành khi có các điều kiện sau:

Thứ nhất, sự phân công lao động xã hội: Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động vào các ngành, lĩnh vực khác nhau tạo nên sự chuyên môn hoá của những người sản xuất thành các ngành nghề khác nhau. Khi đó, mỗi người sẽ sản xuất một hoặc một số sản phẩm nhất định nhưng nhu cầu của họ là nhiều loại sản phẩm khác nhau nên để thỏa mãn nó, những người sản xuất phải trao đổi sản phẩm với nhau.

Thứ hai, sự tách biệt về kinh tế của các chủ thể sản xuất: Sự tách biệt về kinh tế giữa các chủ thể làm cho những người sản xuất độc lập với nhau. Vì thế, người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác phải thông qua trao đổi, mua bán thức trao đổi bằng hình thức hàng hoá. Trong lịch sự, sự tách biệt về kinh tế giữa các chủ thể sản xuất thể hiện khách quan theo sự tách biệt về sở hữu. Xã hội càng phát triển, sự tách biệt về sở hữu càng sâu sắc, hàng hóa được sản xuất càng phong phú.

Hàng hoá

Khái niệm

Hàng hoá là sản phẩm của lao động nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua hoạt động trao đổi, mua bán trên thị trường. Hàng hoá có hai dạng là phi vật thể và vật thể.

hang hoa la gi luanvanbeta
Khái niệm hàng hóa là gì?

Hai thuộc tính cơ bản của hàng hoá

Giá trị sử dụng của hàng hoá: Là công dụng của sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người như nhu cầu về vật chất hoặc nhu cầu tinh thần, hoặc nhu cầu tiêu dùng cá nhân, nhu cầu cho sản xuất. Giá trị sử dụng được thực hiện trong sử dụng hoặc tiêu dùng, nền sản xuất càng phát triển càng giúp con người phát hiện ra nhiều và phong phú các giá trị sử dụng của sản phẩm. Giá trị sử dụng của hàng hoá là giá trị sử dụng đáp ứng nhu cầu của người mua nên nhà sản xuất cần chú ý hoàn thiện giá trị sử dụng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

Giá trị của hàng hoá: Giá trị này được thể hiện thông qua quan hệ trao đổi giữa số lượng đơn vị hàng hoá của mặt hàng này được trao đổi với số lượng hàng hoá của mặt khách hàng. Tỷ lệ trao đổi giữa các giá trị sử dụng khác nhau này tức là giá trị trao đổi. Sở dĩ các hàng hoá trao đổi được với nhau là vì chúng có một điểm chung nằm trong cả hai hàng hoá. Nếu gạt giá trị sử dụng hay tính có ích của sản phẩm thì giữa chúng có điểm chung duy nhất là đều là sản phẩm của lao động và là một lượng lao động bằng nhau để tạo ra số lượng các giá trị sử dụng trong quan hệ trao đổi đó.

Giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá được kết tinh trong hàng hoá: Giá trị hàng hoá được biểu hiện ở quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất, trao đổi hàng hoá và đây là phạm trù có tính lịch sử. Giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện ra ngoài của giá trị, giá trị là nội dung và cơ sở để trao đổi. Khi trao đổi, sẽ có sự so sánh ngầm lao động đã hao phí ẩn dấu trong hàng hoá với nhau. Khi sản xuất hàng hoá, để thu được hao phí lao động đã kết tinh, người sản xuất cần chú ý hoàn thiện giá trị sử dụng để được thị trường chấp nhận.

Mối quan hệ của hai thuộc tính của hàng hoá là gì?

Mặt thống nhất: Hai thuộc tính này đồng thời tồn tại trong một hàng hoá, nếu một vật có giá trị sử dụng nhưng không có giá trị như không khí tự nhiên thì không được coi là hàng hoá. Ngược lại, nếu một vật có giá trị nhưng không có giá trị sử dụng cũng không được coi là hàng hoá.

Tính mâu thuẫn: Với tư cách là giá trị sử dụng thì các hàng hoá khác nhau về chất (vải, thép,…) nhưng với tư cách là giá trị thì các hàng hóa lại đồng nhất về chất tức là đều là kết tinh đồng nhất của lao động, tức là sự kết tinh của lao động hay lao động đã được vật hoá. Thứ hai, quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng có sự tách rời cả về không gian lẫn thời gian.

Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá

Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hoá với lao động sản xuất hàng hoá, C.Mác đã phát hiện ra hàng hoá có hai thuộc tính là do lao động của người sản xuất hàng hoá có tính hai mặt đó là tính cụ thể và tính trừu tượng của lao động, cụ thể:

Lao động cụ thể: Là lao động có ích bằng một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định vì mỗi lao động cụ thể đều có mục đích, đối tượng lao động, công cụ và phương pháp lao động riêng với kết quả riêng. Các loại lao động khác nhau sẽ tạo ra các sản phẩm có giá trị sử dụng khác nhau. Phân công lao động xã hội càng phát triển thì càng có nhiều giá trị sử dụng khác nhau. Lao động cụ thể phản ánh tính tư nhân của lao động sản xuất hàng hoá bởi việc sản xuất cái gì và như thế nào là việc riêng của mỗi chủ thể sản xuất. Giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn nên lao động cụ thể là phạm trù vĩnh viễn tồn tại cùng với vật phẩm, là điều kiện không thể thiếu trong bất kỳ hình thái nào. Lao động cụ thể không phải nguồn gốc duy nhất của giá trị sử dụng do no sản xuất ra mà do hai nhân tố hợp thành là vật chất và lao động. Lao động cụ thể chỉ thay đổi hình thức tồn tại của vật chất làm nó thích hợp với nhu cầu con người.

Lao động trừu tượng: Là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá không kể đến hình thức lao động cụ thể của nó mà là sự hao phí sức lao động nói chung của người sản xuất hàng hoá về cơ bắp, trí lực,…Giá trị hàng hoá là lao động trừu tượng của người sản xuất kết tinh trong hàng hoá và đây là cơ sở để so sánh, trao đổi các giá trị sử dụng khác nhau. Lao động trừu tượng phản ánh tính chất xã hội của lao động sản xuất hàng hoá vì lao động của mỗi người là bộ phận của lao động xã hội nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội. Lao động trừu tượng tạo ra giá trị để làm cơ sở cho trao đổi ngang bằng. Nếu không có sản xuất hàng hoá thì không cần phải quy các lao động cụ thể và lao động trừu tượng nên lao động trừu tượng là phạm trù lịch sử riêng có của sản xuất hàng hoá. Lao động có tính hai mặt là lao động cụ thể và lao động trừu tượng với những mâu thuẫn sau:

Lao động trừu tượng là biểu hiện của lao động xã hội dù bạn có làm ngành nghề gì cũng phải hao phí sức lực.

Lao động cụ thể đại diện cho lao động tư nhân còn lao động trừu tượng đại diện cho lao động xã hội.

Nếu lao động cụ thể chỉ là một trong hai nhân tố tạo nên giá trị sử dụng thì lao động trừu tượng là nhân tố duy nhất tạo nên giá trị hàng hoá. Việc phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá có vai trò quan trọng về mặt lý luận, đem lại lý thuyết lao động sản xuất một cơ sở khoa học thực sự. Điều này giúp chúng ta giải thích các hiện tượng phức tạp trong thực tế như sự vận động trái ngược khi khối lượng của cải vật chất tăng lên và khối lượng giá trị giảm xuống.

Lượng giá trị và các nhân tố tác động đến lượng giá trị hàng hoá

Lượng giá trị hàng hoá

Là do lao động xã hội, trừu tượng của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá nên đây là lao động đã hao phí để tạo ra hàng hoá.

Lượng lao động đã hao phí được tính bằng thời gian lao động và được xã hội chấp nhận. Trong thực hành sản xuất, người sản xuất phải tích cực đổi mới, sáng tạo để giảm thời gian hao phí lao động cá biệt tại đơn vị sản xuất của mình xuống mức thấp hơn mức hao phí trung bình cần thiết để có được ưu thế cạnh tranh.

Các nhân tố tác động đến lượng giá trị hàng hoá

Thứ nhất, năng suất lao động: Là năng lực sản xuất của người lao động được tính bằng hằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hay số lượng thời gian hao phí để sản xuất được một đơn vị sản phẩm. Năng suất lao động tăng lên làm giảm lượng thời gian hao phí lao động cần thiết nên năng suất lao động tăng lên làm cho lượng giá trị trong một đơn vị hàng hoá giảm xuống.

Thứ hai, tính chất phức tạp của lao động: Căn cứ vào mức độ phức tạp của lao động chia thành lao động giản đơn và lao động phức tạp trong đó lao động giản đơn không đòi hỏi có quá trình đào tạo hệ thống, chuyên sâu về chuyên môn. Lao động phức tạp là những hoạt động lao động cần trải qua quá trình đào tạo về kỹ năng, nghiệp vụ theo yêu cầu nghề nghiệp. Cùng một đơn vị thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn và lao động phức tạp là lao động giản đơn được nhân bội lên. Đây là cơ sở quan trọng để nhà quản trị và người lao động xác định mức thù lao phù hợp với tính chất của hoạt động lao động trong quá trình tham gia hoạt động kinh tế xã hội.

Chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu về khái niệm hàng hoá cũng như các nội dung liên quan đến chủ đề này. Hy vọng thông qua bài viết này, các bạn sẽ hiểu rõ hơn về hàng hoá cũng như áp dụng kiến thức này vào trong học tập và thực tế sau này. Nếu các bạn có thắc mắc hay câu hỏi nào liên quan đến chủ đề này, hãy để lại bình luận với chúng tôi để được giải đáp nhanh chóng nhé.

Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Bình luận
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận